Hãy cùng Luật Đông Thành tìm hiểu Lịch sử hình thành Đoàn luật sư Hà Nội như thế nào nhé!
Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội là tổ chức xã hội nghề nghiệp được thành lập và hoạt Động từ ngày 24/1/1984 là thành viên của Liên đoàn Luật sư Việt Nam và cũng là một trong hai Đoàn Luật sư lớn nhất trong 63 Đoàn Luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước, đến nay có trên 5.700 luật sư (trên tổng số gần 18.000 luật sư cả nước) và gần 5.000 người tập sự hành nghề luật sư hoạt động trên 1.700 tổ chức hành nghề tại địa bàn Hà Nội. Trải qua 40 năm từ ngày thành lập, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội và các luật sư thành viên luôn phấn đấu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, mở rộng hợp tác quốc tế trong hoạt động nghể nghiệp luật sư để góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, khẳng định được vai trò và vị thế của mình, ngày càng đáp ứng yêu cầu của xã hội, góp phần vào phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong 10 nhiệm kỳ hoạt động, với những đóng góp của mình, Đoàn Luật sư thành phố đã vinh dự được nhận nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cùng các luật sư thành viên luôn tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghể nghiệp và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, giữ gìn uy tín, góp phần tích cực hơn nữa vào công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam, tiếp tục tạo được sự quan tâm và tin tưởng của Đảng, Nhà nước, chính quyền thành phố Hà Nội và của nhân dân.
- Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Thời kỳ phong kiến, việc xét xử ở nước ta do vua quan tiến hành, không có khái niệm và chế định về luật sư. Tháng 7 năm Mậu Ngọ (1858), dưới triều vua Tự Đức, Trung tướng Pháp Rigault de Genouilly chỉ huy chở hơn 3.000 quân trên 14 chiếc tàu hải quân Pháp và Italy bắn phá Đà Nẵng, chiếm đồn An Hải. Sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26/11/1876, Toàn quyền Pháp ban hành Nghị định về việc biện hộ cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Tòa án Pháp. Sau khi đã thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thố Việt Nam và toàn cõi Đông Dương, năm 1884, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt Nam đã nhập quốc tịch Pháp tốt nghiệp Đại học Luật tại Pháp và chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp. Ngày 30/1/1911, Toàn quyển Pháp tiếp tục ban hành Sắc lệnh mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư và đến ngày 25/5/1930 ban hành Sắc lệnh về tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng đã mở rộng cho các luật sư không chỉ biện hộ ở Tòa án Pháp mà cả trước Toà Nam án, không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp.
Một sự kiện đặc biệt đáng ghi nhớ về vai trò của luật sư trong lịch sử Việt Nam là vụ án “Tống Văn Sơ” (bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Sáng sớm 6/6/1931, đồng chí Tống Văn Sơ bị Cảnh sát Hồng Công bắt, giam giữ đến tháng 7/1932. Thông qua Liên đoàn Quốc tế Cứu tế đỏ của Ban Phương Đông (Quốc tế Cộng sản), đồng chí Hồ Tùng Mậu đã kịp tiếp xúc với luật su Loseby (1883-1967)- Giám đốc Công ty Luật sư Russ (của người Anh) là luật sư nổi tiếng nhất Hồng Công lúc đó, để nhờ cãi trắng án cho Tống Văn Sơ. Luật sư Loseby đã chỉ ra các vi phạm về tố tụng để biện hộ cho thân chủ, trong đó có Lệnh bắt giam trái luật. Dù vậy, mãi đến phiên tòa thứ 9 vào ngày 19/9/1931, Tòa án mới thừa nhận sai trái nhưng vẫn chưa trả tự do cho Tống Văn Sơ. Tống Văn Sơ và luật sư đã kiện lên Viện Cơ mật Hoàng gia Anh. Vì vậy, cuối năm 1932, chính quyền Hồng Công được lệnh phải trả tự do cho Người nhưng mật thám bí mật bắt lại. Lần này Toà án cho rằng việc bắt Tống Văn Sơ là hợp pháp vì đã bị Toà án thực dân ở Vinh kết án tử hình vắng mặt nên phải trả lại cho nhà cầm quyển Pháp ở Đông Dương. Luật sư Loseby đã kháng án đến Toà án tại London, trao đổi với các luật sư đang đảm nhận vụ việc để kiến nghị phóng thích và gặp Thống đốc Hồng Công William Pil để phản đối, buộc phải ra lệnh phải trả tự do lập tức cho Tống Văn Sơ. Khi ra khỏi tù, vì mật thám Anh – Pháp vẫn luôn rình rập, chính phu nhân của Loseby đã có sáng kiến để Người cải trang thành nhiều dạng và sau đó đến ở tại nhà luật sư Loseby. Người được gia đình Loseby chăm sóc chu đáo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để sau đó rời khỏi Hồng Công an toàn, sang Liên Xô tiếp tục các hoạt động cách mạng của mình. Sau này với cương vị Chủ tịch nước, Bác Hồ đã mời ông bà Loseby sang thăm Việt Nam như là thượng khách.

Có thể bạn quan tâm:
Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội – Công Ty Luật Hợp Danh Đông Thành
Chi Phí Thuê Luật Sư Hình Sự Bao Nhiêu?
5 Luật Sư Uy Tín Nhất Hà Nội 2025 – Được Khách Hàng Đánh Giá Cao
- Giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/ SL về việc thành lập đoàn thể Luật sư. Theo đó, cách tổ chức các Đoàn Luật sư trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tạm giữ như Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của người Pháp, nhưng Sắc lệnh này có quy định một số vấn để quan trọng cho phù hợp với chế độ mới như: “Muốn được liệt danh vào bảng Luật sư tại Tòa Thượng thẩm Hà Nội hay sau này: 1- Có quốc tịch Việt Nam, bất luận nam nữ; 2- Có bằng cử nhân luật: 3- Đã làm Luật sư tập sự trong ba năm (kể từ ngày tuyên thệ) ở một văn phòng Luật sư thực thụ trong nước Việt Nam. Những người đã làm Luật sư tập sự ở Pháp có thể xin tính thời hạn tập sự ở Pháp nhưng chỉ được trừ nhiều nhất là 12 tháng; 4- Có hạnh kiểm tốt; 5- Được bằng chứng rằng đã hết hạn tập sự và đủ tư cách làm Luật sư thực thụ”.
Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 và các văn bản tiếp theo xây dựng chế độ bào chữa viên ở miền Bắc. Sáu tháng sau đó, Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 được thay thế bởi Sắc lệnh số 144/SL ngày 22/12/1949 (sửa đổi Điều 1 Sắc lệnh số 69/SL) mở rộng quyển bào chữa cho các bị cáo trước các Tòa án.
Tuy nhiên, đất nước tiếp tục đi vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Phát xít Nhật và đế quốc Mỹ và bị chia cắt nên việc thành lập tố chức luật sư theo Sắc lệnh của Hồ Chủ tịch chưa thể thực hiện được. Ở Miền Bắc, ngày 31/12/1958, Quốc hội thông qua Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó Điều 101 quy định: “Việc xét xử tại các Tòa án nhân dân đều công khai, trừ trường hợp đặc biệt do luật định. Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảơ. Sau khi nước nhà hoàn toàn thống nhất (30/4/1975), Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1980), trong đó có nhiều điều ghi nhận quyền tự do, dân chủ của công dân: Điều 69 quy định: “Công dân có quyển bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân. Việc bắt giữ người phải theo đúng pháp luật, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. Điều 70 quy định: “Công dân được pháp luật bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm”. Điều 133 quy định: “Toà án nhân dân xét xửcông khai, trừ trường hợp do luật định. Quyền bào chữa được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị can, bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”. 3. Các hoạt động và tổ chức tiền thân của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội Sau khi Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 20/7/1960, việc xây dựng một tổ chức luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo và các đương sự khác tại Tòa án các cấp là một việc cần thiết. Vì vậy, năm 1965 ông Phạm Văn Bạch- Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã quyết định thành lập Phòng luật sư bên cạnh Tòa án nhân dân tối cao, để thí điểm tổ chức luật sư mới. Phòng luật sư có nhiệm vụ cử luật sư bào chữa cho các bị cáo trước Toà án các tỉnh thuộc miền Bắc nước ta. Phòng luật sư có dấu riêng (dấu vuông), các luật sư trong Văn phòng đều là công chức, hưởng lương Nhà nước và hầu hết là cán bộ đã hoạt động trong các ngành pháp luật, do luật sư Nguyễn Đình Phùng làm Trưởng phòng, cùng các luật sư Trần Văn Hưởng, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Vĩnh Thạnh, Trần Thị Phương Đức và luật sư Trần Văn Khương là cán bộ Mặt trận Tổ quốc. Mọi chi phí cho các hoạt động của luật sư đều do ngân sách Nhà nước cung cấp. Năm 1975, Phòng luật sư được chuyển sang Ủy ban pháp chế của Chính phủ, sau này đổi thành Bộ Tư Pháp, được giao địa điểm 19 Tràng Thi, Hoàn Kiểm làm trụ sở. Thời kỳ này, Phòng có thêm các luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, Nguyễn Thiện Dõng, Bùi Cương, Phạm Thị Hồng, Hoàng Văn Kế và Phạm Thị Khang. Năm 1982, có thêm một số luật sư trẻ như Nguyễn Văn Nhuần, Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Cường, Lê Cúc Lâm. Luật sư Phạm Thị Hỗng được bổ nhiệm làm Trưởng phòng, luật sư Nguyễn Văn Nhuần làm Phó trưởng phòng. Do yêu cầu của tổ chức, một số luật sư được điểu đi nhận công tác khác một thời gian sau mới trở về hoạt động luật sư tại Hà Nội như: Luật sư Trần Thị Phương Đức, Phạm Thị Khang, Nguyễn Thị Hằng Nga, Phạm Thị Hồng. Trong thời gian từ 1965 đến 1984 Phòng luật sư đã cử luật sư bào chữa nhiều vụ án quan trọng như: Vụ gián điệp biệt kích tại Hà Tĩnh; vụ Trương Việt Hùng – Thứ Trưởng Bộ Nông nghiệp giết vợ; vụ tham ô lớn ở công trường Bắc Hưng Hải; vụ tham ô tiền ở Ngân hàng nhà nước Trung ương; vụ tham ô ở Bộ lương thực, thực phẩm, … Trong một số vụ, có bị cáo đã được tuyên bố vô tội như vụ giết người ở phố Tạ Hiện, vụ Nguyễn Thế Bưu ở 15 Yên Thế, vụ Tạ Đình Đề ở Tổng cục đường sắt. Các việc bào chữa hầu hết là do Tòa án chỉ định và chủ yếu là tại địa bàn thành phố Hà Nội. Ngày 31/10/1983, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK hướng dẫn về công tác bào chữa. Theo Thông tư này, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng, những nơi đã có tổ chức luật sư bào chữa thì củng cố lại về tổ chức, quân lý chặt chẽ hơn. Còn các tỉnh khác, nếu có đủ điểu kiện và được Ủy ban Nhân dân tỉnh cho phép thì thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân. Như vậy, lần đầu tiên việc thành lập tổ chức luật sư được quy định trong Hiến pháp. Theo tinh thần này, ngày 30/4/1984 Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số 1615/QĐ-TC thành lập Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Đây là một tổ chức xã hội nghể nghiệp của một địa phương cấp tỉnh được thành lập sớm nhất trong cả nước, trong khi các địa phương khác chỉ thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân.
- GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG THEO SẮC LỆNH 46/SL

Căn cứ Quyết định số 1615/QĐ-TC ngày 30/4/1984 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc thành lập Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, ngày 24/11/1984, tại tầng 1 ngôi nhà số 19 phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm (tiển thân là trụ sở Phòng luật sư thuộc Ủy ban pháp chế của Chính phủ), Hội nghị thành lập Đoàn Luật sư đã được tiến hành với 16 luật sư sáng lập viên đâu tiên là những người có bể dày và uy tín trong công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp gồm:
Luật sư Vũ Như Giới
Luật sư Trần Thế Môn
Luật sư Nguyễn Thị Xuân An
Luật sư Nguyễn Văn Chi
Luật sư Vũ Ngọc Duyên
Luật sư Lê Minh Đức
Luật sư Đỗ Xuân Sång
Luật sư Trần Khắc Uẩn
Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh
Luật sư Vũ Khắc Toản
Luật sư Phan Châu
Luật sư Đặng Văn Doãn
Luật sư Nguyễn Xuân Dương
Luật sư Lê Duy Lương
Luật sư Phùng Hiển Thiết
Luật sư Vũ Quý Vỹ
Tham dự Hội nghị có đại diện Bộ Tư pháp, Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội. Hội nghị đã bầu ra Ban chủ nhiệm với nhiệm kỳ 3 năm, gồm có:
– Luật sư Vũ Như Giới – Chủ nhiệm.
– Luật sư Trần Thế Môn – Phó Chủ nhiệm.
– Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh – Phó Chủ nhiệm.
Luật sư Vũ Khắc Toản – Tổng thư ký.
Hội nghị cũng bầu Ban kiểm tra do Luật sư Trần Thế Môn kiêm nhiệm Trưởng ban và luật sư Nguyễn Đình Chi, Nguyễn Thị Xuân An làm uỷ viên.
Thời kỳ này, các luật sư chủ yếu thực hiện bào chữa theo chỉ định của Toà án. Ngoài ra, trường hợp bào chữa theo yêu cầu của bị cáo hoặc gia đình bị cáo mời thì mức thù lao từ 200 đồng đến 400 đồng một vụ việc. Tuy nhiên, cho dù bào chữa chỉ định hay được mời, các luật sư làm việc rất tận tình nên đã tạo được lòng tin của khách hàng.
Ban Chủ nhiệm họp mỗi tuần một lần, có sự tham dự của đại diện Sở Tư pháp và Ban Tổ chức chính quyền thành phố, chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa Đoàn Luật sư và Sở Tư pháp, Toà án, Viện Kiểm sát và Cơ quan điều tra. Theo đó, hàng tuần Ban Chủ nhiệm cử người đến Toà án xin lịch phiên toà, liên hệ để được bố trí thời gian cho luật sư nghiên cứu hồ sơ và ghi chép lại những nội dung cần thiết phục vụ cho việc bào chữa.
Để hoạt động được quy củ, Ban Chủ nhiệm đã ban hành Quy chế hoạt động của Đoàn, quy tắc làm việc của luật sư. Đồng thời, Ban Chủ nhiệm cũng đưa các vụ án đã bào chữa ra để trao đổi rút kinh nghiệm hoặc cùng luật sư bào chữa nghiên cứu, bàn phương hướng bào chữa đối với các vụ án phức tạp hay có đông bị cáo. Nhờ đó mà kỹ năng, nghiệp vụ bào chữa của các luật sư tiến bộ nhanh chóng, uy tín của luật sư của Đoàn từng bước được nâng cao, số lượng khách đến mời ngày càng nhiểu. Năm 1985, mỗi tháng Đoàn nhận được khoảng 20- 30 việc do khách hàng mời. Đến năm 1986, nhận khoång 40- 50 việc mỗi tháng.
Ngay từ giai đoạn này, Ban Chủ nhiệm đã chú trọng đến công tác đối ngoại, tiếp và làm việc với các Đoàn luật gia Nhật Bản, Ân Độ và Ba Lan đến thăm để giao lưu, học hỏi kinh nghiệm nghể nghiệp.
Về xây dựng Đoàn, năm 1986, kết nạp thêm các luật sư Nguyễn Văn Điểm, Vũ Thiện Kim, Phạm Thị Khang, Phạm Cao Ngọc và Hà Lưu Phương; năm 1987, kết nạp các luật sư Đàm Văn Hiếu, Vũ Hải, Đỗ Thị Hoàng, Ngô Kiên, Phạm Thái, Hoàng Văn Kế, Tiết Văn Nghi, Lê Văn Liêm, Phan Trang, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Bích Lan, Nguyễn Thị Vân Hằng, nâng tổng số luật sư lên 34 người.
Sau khi luật sư Vũ Như Giới và Trần Khắc Uẩn qua đời và có 4 luật sư xin nghỉ việc (luật sư Lê Văn Liêm, Phan Trang, Phan Châu và Nguyễn Đình Chi), đến cuối năm 1987 tổng số thành viên còn 28 luât sư.
Thời điểm này chưa có quy chế cụ thể về thủ tục gia nhập và kết nạp nên khi có người xin gia nhập, Ban Chủ nhiệm cử người đi xác minh lý lịch, nếu xét thấy đủ điều kiện và phù hợp thì sẽ làm Tờ trình kèm theo hồ sơ lý lịch gửi đến Bộ Tư pháp, Ban Nội chính Thành uỷ và Ban Tổ chức chính quyền Thành phố. Sau khi được Thành phố chấp thuận, Bộ Tư pháp quyết định công nhận, Đoàn Luật sư mới tổ chức kết nạp. Tuy nhiên, cả năm 1985 không kết nạp được luật sư nào do nhiều trường hợp ý kiến các cơ quan không đồng nhất, phải chờ đợi rất lâu.
Một sự kiện đặc biệt quan trọng là đến cuối nhiệm kỳ I, Hội đồng Nhà nước (nay là Thường vụ Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh Tổ chức luật sư ngày 18/12/1987 với 6 chương, 25 điều, với nội dung chủ yếu:
– Các Đoàn Luật sư là tổ chức nghề nghiệp của luật sư được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
– Các luật sư làm nhiệm vụ giúp đỡ về mặt pháp lý cho công dân và tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
– Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư là cơ quan cao nhất của Đoàn Luật sư, bầu ra Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra với nhiệm kỳ 3 năm. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội nghị toàn thể, Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra do Quy chế Đoàn Luật sư quy định.
– Người gia nhập Đoàn Luật sư phải là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương. Những người đang làm công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật không được tham gia Đoàn Luật sư, trừ những người làm nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý.
– Người gia nhập Đoàn Luật sư phải qua một kỳ kiểm tra và có thời gian thực tập từ 6 tháng đến 24 tháng dưới sự hướng dẫn của một luật sư thực thụ.
– Các luật sư được tham gia tố tụng để bào chữa cho các bị cáo và bênh vực quyền lợi cho các đương sự trước Toà án các cấp, đồng thời được làm tư vấn và dịch vụ pháp lý cho các cá nhân và tổ chức.
– Luật sư nhận tiển thù lao thông qua Đoàn Luật sư theo tỷ lệ từ 70% đến 80% tiền thù lao cho mỗi vụ việc. Tỷ lệ cụ thể do Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư quyết định.
Đây là Pháp lệnh đầu tiên quy định về tổ chức, hành nghễ Luật sư ở Việt Nam kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của Đoàn Luật sư và các luật sư và khẳng định vị thế của tổ chức luật sư trong đời sống xã hội, và trong hoạt động tư pháp. Theo Pháp lệnh, Đoàn Luật sư vừa là tổ chức xã hội- nghể nghiệp của các Luật sư, vừa đẩm nhiệm vai trò như tỗ chức hành nghề luật sư (hiện nay), vừa quản lý luật sư thành viên vừa kiêm cả đảm nhận vụ việc từ khách hàng, thu tiền và cấp giấy giới thiệu cho Luật sư tham gia tố tụng.
Nguồn:luatsuhanoi.vn

