Đã khắc phục toàn bộ thiệt hại: Cần đáp ứng những điều kiện nào để được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại theo Nghị quyết 37/2026/QH16?

Luật sư Nguyễn Thị Thu

Công ty Luật hợp danh Đông Thành – Dongthanhlaw

Cần đáp ứng những điều kiện nào để được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại theo Nghị quyết 37/2026/QH16?

Khắc phục toàn bộ thiệt hại là việc có ý nghĩa quan trọng trong các vụ án kinh tế. Tuy nhiên, đối với người đã bị kết án tù, việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính chưa đủ để kết luận người đó được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại theo Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Trong trường hợp áp dụng Điều 5, khắc phục hậu quả thiệt hại chỉ là một trong năm điều kiện phải đáp ứng đồng thời. Những điều kiện còn lại liên quan đến bản chất hành vi, mục đích thực hiện, kết quả của hoạt động và tình trạng khiếu nại, tố cáo. Điều 5 quy định các điều kiện; Điều 4 giải thích những từ ngữ tương ứng, làm cơ sở hiểu và áp dụng đúng từng điều kiện.

Vì vậy, điều cần làm rõ không chỉ là đã nộp bao nhiêu tiền, mà còn là hành vi và trường hợp của người bị kết án đã đáp ứng đầy đủ những yêu cầu nào của Nghị quyết.

Bài viết phân tích các điều kiện tại Điều 5 để áp dụng khoản 3 Điều 10 đối với hành vi thuộc phạm vi Điều 1 và đối tượng tại Điều 2. Không thể chỉ căn cứ vào cách gọi “vụ án kinh tế” để xác định thuộc diện áp dụng. Đối với vi phạm trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân có liên quan đến đất đai, khoản 3 Điều 12 dẫn chiếu áp dụng Nghị quyết số 29/2026/QH16; không nên áp dụng máy móc phân tích trong bài cho các trường hợp này.

Cần đáp ứng những điều kiện nào để được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại theo Nghị quyết 37/2026/QH16?
Cần đáp ứng những điều kiện nào để được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại theo Nghị quyết 37/2026/QH16?

Một tình huống giả định

Ông A điều hành doanh nghiệp thực hiện một công trình hạ tầng. Công trình đã hoàn thành, được đưa vào sử dụng. Trong quá trình thực hiện, ông A có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại và bị kết án tù.

Bản án đã có hiệu lực pháp luật ghi nhận ông A hoàn thành phần nghĩa vụ tài chính của mình, đồng thời xác định toàn bộ hậu quả thiệt hại liên quan đã được khắc phục. Khi đang chấp hành án phạt tù, ông A đề nghị được miễn chấp hành hình phạt còn lại theo Nghị quyết số 37/2026/QH16.

Trong tình huống này, vấn đề khắc phục thiệt hại đã có căn cứ từ bản án. Tuy nhiên, để áp dụng khoản 3 Điều 10 trên cơ sở Điều 5, vẫn phải xác định các điều kiện khác đã được đáp ứng hay chưa.

Tình huống hoàn toàn giả định, chỉ phục vụ phân tích pháp luật.

1. Hoàn thành nghĩa vụ cá nhân và khắc phục toàn bộ thiệt hại

Khoản 5 Điều 5 đặt ra hai trường hợp: không gây thất thoát, lãng phí tài sản; hoặc có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại. Khoản 3 Điều 4 xác định hậu quả thiệt hại trong phạm vi Nghị quyết là hậu quả vật chất; khoản 4 Điều 4 giải thích việc khắc phục hậu quả theo hướng bảo đảm lợi ích của Nhà nước, các bên liên quan và hài hòa lợi ích trong tổng thể lợi ích quốc gia.

Cá nhân hoàn thành nghĩa vụ của mình nghĩa là đã thực hiện đầy đủ phần nghĩa vụ được xác định đối với cá nhân đó. Còn khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại đòi hỏi hậu quả vật chất liên quan đến hành vi vi phạm đã được khắc phục đầy đủ, không chỉ riêng phần nghĩa vụ của một người.

Nếu ông A đã nộp đủ phần nghĩa vụ của mình nhưng vẫn còn thiệt hại chưa được khắc phục, chứng từ của ông A chưa đủ để xác định điều kiện tại khoản 5 Điều 5 đã được đáp ứng.

Ngược lại, trong tình huống giả định, bản án đã ghi nhận rõ cả hai nội dung. Khi lập đề nghị, cần viện dẫn chính xác phần nhận định tương ứng, số bản án và trang có nội dung đó. Không nên mặc nhiên yêu cầu nộp lại biên lai hoặc chứng minh lại một nội dung đã được bản án xác định rõ. Chỉ khi bản án chưa làm rõ phạm vi thiệt hại, mức độ khắc phục hoặc có vấn đề cần xác minh thêm mới đặt ra việc bổ sung căn cứ phù hợp.

Điều kiện này hướng đến kết quả khắc phục toàn bộ hậu quả, không đồng nghĩa cá nhân đề nghị phải tự mình nộp toàn bộ số tiền thiệt hại. Khi hậu quả đã được khắc phục bởi các tổ chức, cá nhân liên quan, cần đánh giá kết quả đó theo khoản 5 Điều 5, đọc cùng khoản 4 Điều 4.

2. Không tham nhũng phải được xác định từ hành vi và kết luận có thẩm quyền

Điều kiện tại khoản 1 Điều 5 phải được hiểu theo khoản 1 Điều 4. Theo đó, việc không tham nhũng bao gồm không thực hiện các hành vi tham nhũng theo Luật Phòng, chống tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng theo Bộ luật Hình sự; nội dung này phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo pháp luật kết luận bằng văn bản.

Đối với ông A, cần xác định hành vi đã được các cơ quan có thẩm quyền đánh giá như thế nào, văn bản nào thể hiện kết luận về việc không tham nhũng và kết luận đó có liên quan trực tiếp đến hành vi đang được đề nghị áp dụng Nghị quyết hay không.

Bản án và các kết luận bằng văn bản trong quá trình giải quyết vụ án là những căn cứ cần đọc kỹ. Không thể chỉ nhìn tên tội danh rồi suy ra điều kiện đã được đáp ứng. Việc không bị kết án về một tội tham nhũng chưa tự nó thay thế yêu cầu xác định không thực hiện hành vi tham nhũng theo cách giải thích của Nghị quyết.

Tương tự, việc cá nhân hoặc doanh nghiệp không hưởng lợi có thể là tình tiết cần xem xét, nhưng không thay thế toàn bộ việc đánh giá bản chất hành vi và kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Chứng từ nộp tiền phản ánh việc khắc phục hậu quả sau vi phạm; nó không xác định được hành vi trước đó có tham nhũng hay không.

3. Công trình có ích chưa tự chứng minh hành vi vì lợi ích chung

Khoản 2 Điều 5 quy định điều kiện vì lợi ích chung. Khoản 2 Điều 4 giải thích điều kiện này gắn với lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, lĩnh vực, địa phương; mục đích phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đồng thời không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và không có động cơ vụ lợi.

Cần phân biệt mục đích của hành vi vi phạm với lợi ích mà công trình mang lại. Một công trình có thể phục vụ người dân, cải thiện giao thông hoặc thúc đẩy phát triển địa phương. Nhưng những kết quả ấy chưa đủ để kết luận quyết định vi phạm trong quá trình thực hiện công trình xuất phát từ lợi ích chung. Công trình có ích vẫn có thể đi cùng hành vi nhằm phục vụ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm.

Với ông A, cần làm rõ hoàn cảnh phát sinh hành vi, vấn đề cần giải quyết, mục đích của quyết định và những lợi ích mà người thực hiện hướng tới. Các nhận định trong bản án, tài liệu về quá trình quyết định, báo cáo, trao đổi công việc và kết luận có liên quan có thể cung cấp căn cứ đánh giá.

Lập luận phải giải thích được mối liên hệ giữa hành vi cụ thể và mục đích vì lợi ích chung, thay vì chỉ mô tả giá trị của công trình. Việc nộp tiền sau vi phạm cũng không thể tự chứng minh động cơ khi thực hiện hành vi.

4. Hoạt động đã hoàn thành phải đồng thời có hiệu quả kinh tế – xã hội

Khoản 3 Điều 5 yêu cầu các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho địa phương, đất nước.

Khoản 5 Điều 4 giải thích hiệu quả này thông qua những tác động như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.

Đối với công trình trong tình huống giả định, cần làm rõ cả việc hoàn thành hoạt động và hiệu quả thực tế. Biên bản nghiệm thu, bàn giao, tài liệu đưa công trình vào sử dụng có thể giúp xác định nội dung thứ nhất. Thông tin về khả năng phục vụ người dân, kết nối giao thông, cải thiện hạ tầng, tạo việc làm hoặc tác động đến hoạt động kinh tế địa phương có thể giúp xác định nội dung thứ hai.

Số liệu cụ thể và căn cứ kiểm chứng có sức thuyết phục hơn những nhận xét chung như “đóng góp lớn” hay “mang lại nhiều lợi ích”. Đây là gợi ý về cách chứng minh, không phải danh mục tài liệu bắt buộc do Điều 5 quy định. Cần lựa chọn căn cứ phù hợp với thực tế và tận dụng những nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền xác định.

Việc chuẩn bị tài liệu của người đề nghị không thay thế trách nhiệm đánh giá của cơ quan có thẩm quyền. Khoản 2 Điều 13 quy định trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan được nêu tại khoản này trong việc đánh giá hiệu quả các hoạt động đã triển khai và những nội dung liên quan đến khắc phục hậu quả. Khoản 3 Điều 13 đồng thời quy định trách nhiệm rà soát, lập danh sách, báo cáo của cơ quan tiến hành tố tụng các cấp.

Việc khắc phục thiệt hại không thay thế điều kiện hoạt động đã hoàn thành. Một khoản tiền đã nộp cũng không chứng minh được hiệu quả kinh tế – xã hội của công trình.

5. Khiếu nại và tố cáo phải được đánh giá đúng giới hạn của Nghị quyết

Khoản 4 Điều 5 quy định điều kiện không có khiếu nại, tố cáo hoặc có nhưng đã được giải quyết dứt điểm theo quy định. Nội dung này phải được đọc cùng khoản 6 Điều 4.

Theo phần giải thích tại khoản 6 Điều 4, cần xác định một trong các tình trạng: không phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ; có phát sinh khiếu nại, tố cáo nhưng cơ quan có thẩm quyền đã ban hành thông báo chấm dứt thụ lý, giải quyết; hoặc khiếu nại, tố cáo đã được giải quyết bằng văn bản đã có hiệu lực thuộc lĩnh vực tư pháp. Việc xác định tình trạng đó được đặt đến thời điểm xem xét, xử lý vi phạm theo Nghị quyết.

Không thể diễn giải điều kiện này thành yêu cầu phải chấm dứt mọi khiếu nại, tố cáo. Cũng không nên chỉ căn cứ vào việc còn một đơn khiếu nại, tố cáo để kết luận người đề nghị không đủ điều kiện, mà bỏ qua tính hợp lệ của đơn và kết quả giải quyết có thẩm quyền.

Đối với ông A, nếu có khiếu nại, tố cáo, cần xác định nội dung đã phát sinh, tình trạng pháp lý và văn bản giải quyết tương ứng. Nếu không phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ, việc trình bày phải phản ánh đúng tình trạng đó; không tự đặt thêm yêu cầu phải có một loại giấy xác nhận mà điều khoản không quy định.

Nộp tiền có thể giải quyết một nghĩa vụ tài chính, nhưng không tự xác định tính hợp lệ, kết quả giải quyết hay tình trạng khiếu nại, tố cáo tại thời điểm xem xét.

Có thể bạn quan tâm:
Tư vấn pháp lý về đầu tư trong nước & nước ngoài
Tư vấn pháp lý liên quan đến hoạt động doanh nghiệp và thương mại
Mua bán và sáp nhập Doanh nghiệp
Tư vấn sở hữu trí tuệ
Tư vấn pháp lý về quyền sử dụng đất & bảo vệ môi trường
Tư vấn pháp lý về lao động & việc làm
Tư vấn, tổ chức các hoạt động giáo dục & đào tạo
Tư vấn thủ tục giải thể, xử lý nợ và phá sản doanh nghiệp
Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội | Tư Vấn Pháp Lý 24/7
Luật Sư Hà Nội Uy Tín | Tư Vấn Pháp Lý Chuyên Nghiệp
Luật Sư Uy Tín Tại Hoàn Kiếm – Hà Nội
Luật Sư Uy Tín Tại Ba Đình – Hà Nội | Tư Vấn Pháp Lý Chuyên Nghiệp
Luật Sư Uy Tín Tại Cầu Giấy – Hà Nội
Luật Sư Tư Vấn Miễn Phí- Cánh Cửa Đầu Tiên Tiếp Cận Công Lý
Chi Phí Thuê Luật Sư Bào Chữa Dân Sự
Luật Sư Dân Sự Uy Tín Tại Hà Nội
Top 18 Công Ty Luật, Văn Phòng Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội 
Công Ty Luật Uy Tín Tại Hà Nội
Luật sư uy tín tại Hà Nội & Dịch vụ pháp lý toàn diện
Luật đất đai năm 2024 có nhiều điểm mới
Luật sư
Danh sách các Công Ty Luật, Văn Phòng Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội 
Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội
Luật đất đai năm 2024
Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội - Giải Pháp Pháp Lý Toàn Diện
Luật sư Hà Nội
Nghị định 49/2026/NĐ-CP
tháo gỡ điểm nghẽn thi hành Luật Đất đai từ 31/01/2026
Văn phòng luật sư
Luật sư tư vấn pháp lý về đất đai

6. Hệ quả miễn chấp hành hình phạt theo tình trạng thi hành án

Khoản 3 Điều 10 quy định hệ quả đối với người có hành vi vi phạm đáp ứng điều kiện thuộc trường hợp tại Điều 5 hoặc Điều 6. Trong phạm vi bài viết này, căn cứ được phân tích là Điều 5.

Tình trạng thi hành án phạt tù Hệ quả khi đáp ứng đầy đủ điều kiện
Đang chấp hành án hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù Được miễn chấp hành hình phạt còn lại
Chưa chấp hành án hoặc đang được hoãn thi hành án phạt tù Được miễn chấp hành hình phạt

Nếu ông A đang chấp hành án và được xác định đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Điều 5, hệ quả theo khoản 3 Điều 10 là được miễn chấp hành hình phạt còn lại.

Cách hiểu này cần tránh hai thái cực: cho rằng chỉ cần nộp đủ tiền thì đương nhiên không phải tiếp tục chấp hành án; hoặc cho rằng dù đã đáp ứng đầy đủ quy định, việc miễn vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào sự cân nhắc khoan hồng.

Khoản 3 Điều 10 xác định hệ quả được miễn khi đáp ứng điều kiện. Tuy nhiên, việc áp dụng phải được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục. Khoản 7 Điều 10 dẫn chiếu việc thực hiện theo pháp luật hình sự và pháp luật về thi hành án hình sự. Người đang chấp hành án không thể tự coi nghĩa vụ chấp hành hình phạt đã chấm dứt chỉ vì đã hoàn tất việc nộp tiền.

Cũng cần phân biệt cơ chế này với miễn trách nhiệm hình sự. Điều 8 quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp tại Điều 5 trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Còn khoản 3 Điều 10 điều chỉnh việc chấp hành hình phạt đối với người đã bị kết án.

Miễn chấp hành hình phạt hoặc hình phạt còn lại không có nghĩa bản án bị hủy hay người bị kết án được xác định là vô tội. Khoản 5 Điều 3 cũng đặt ra nguyên tắc không sử dụng Nghị quyết để xem xét lại bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật.

Mỗi điều kiện cần một căn cứ tương ứng

Điều kiện tại Điều 5 Giải thích tại Điều 4 Căn cứ có thể sử dụng
Không tham nhũng
Khoản 1
Khoản 1 Văn bản kết luận của cơ quan có thẩm quyền xác định việc không tham nhũng
Vì lợi ích chung
Khoản 2
Khoản 2 Nhận định, kết luận và tài liệu về hoàn cảnh, mục đích, động cơ của hành vi
Hoạt động hoàn thành và có hiệu quả kinh tế – xã hội
Khoản 3
Khoản 5 về hiệu quả Tài liệu hoàn thành; thông tin, số liệu và đánh giá hiệu quả thực tế
Không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã được giải quyết dứt điểm theo quy định
Khoản 4
Khoản 6 Căn cứ về tính hợp lệ, tình trạng và kết quả giải quyết đến thời điểm xem xét
Không gây thất thoát, lãng phí; nếu có thì đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại
Khoản 5
Khoản 3 và khoản 4 Bản án, quyết định về thiệt hại và việc khắc phục; tài liệu thi hành án khi cần làm rõ

Bảng trên hướng dẫn đối chiếu và lựa chọn căn cứ chứng minh, không xác lập thêm thành phần hồ sơ bắt buộc.

Trở lại với ông A, khi bản án đã xác định toàn bộ hậu quả thiệt hại được khắc phục, đề nghị cần sử dụng ngay nhận định đó làm căn cứ. Phần lập luận tiếp theo phải làm rõ những điều kiện còn lại, thay vì tiếp tục tập trung toàn bộ vào số tiền đã nộp.

Một đề nghị có cơ sở phải chỉ ra được từng điều kiện đã đáp ứng, căn cứ nào chứng minh và căn cứ ấy liên quan thế nào đến hành vi đang được xem xét. Khắc phục thiệt hại là việc quan trọng, nhưng không thể thay thế việc xác định hành vi không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đã hoàn thành và có hiệu quả, cùng tình trạng khiếu nại, tố cáo theo đúng Nghị quyết.

Khi vận dụng vào vụ việc cụ thể, còn cần kiểm tra thời điểm và quy định thi hành. Khoản 1 Điều 12 quy định Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/9/2026; khoản 2 Điều 12 quy định thời hạn thực hiện là 03 năm kể từ ngày có hiệu lực và việc tiếp tục thực hiện đối với các quyết định được liệt kê tại khoản này còn thời hạn. Các khoản 2 và 3 Điều 13 đặt ra việc rà soát các vi phạm xảy ra trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thời hiệu thi hành án phạt tù tương ứng. Vì vậy, không nên hiểu cơ chế này là chính sách miễn chấp hành án không giới hạn về thời gian.

Nguồn chính thức

Nghị quyết số 37/2026/QH16 – Bản ký số trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

Các điều khoản đối chiếu: Điều 1, Điều 2; khoản 5 Điều 3; các khoản 1–6 Điều 4; Điều 5; Điều 8; khoản 3 và khoản 7 Điều 10; các khoản 1–3 Điều 12; khoản 2 và khoản 3 Điều 13.